Cộng đồng Bác Sĩ Đa Khoa tư vấn sức khỏe và sắc đẹp

Tìm hiểu về thuốc ngừa huyết khối nghẽn mạch

Thuốc ngừa huyết khối nghẽn mạch là loại thuốc nào? Đặc điểm của thuốc ngừa huyết khối nghẽn mạch là gì? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu qua bài viết sau đây nhé!

Aspirin – Thuốc ngừa huyết khối nghẽn mạch

Aspirin: thromboxan-A2 đóng vai trò tập kết tiểu cầu; prostacyclin đóng vai trò ngăn tập kết tiểu cầu; bình thường ở thế cân bằng động.

Loading...

Những người bị bệnh tim mạch, cân bằng này bị rối loạn, thromboxan-A2 tăng cao, dễ hình thành huyết khối. Năm 1971, John Robert Vane đã phát hiện aspirin ức chế COX-1 ở tiểu cầu với liều thấp (<1g) nhằm mục đích làm giảm thromboxan -A2 và ức chế COX2 ở nội mô với liều cao (>2g) sẽ làm giảm prostacyclin.

 

 

Sử dụng Aspirin ở liều thích hợp sẽ giúp ngăn chặn được việc tăng thromboxan -A2 lên quá mức, giúp ngăn ngừa sự hình thành huyết khối.

Với người chưa từng bị bệnh hay tai biến tim mạch: Thì những nghiên cứu trên người có nguy cơ bị tim mạch cao, sau 5 năm dùng aspirin (liều 325mg/ngày, cách ngày) sẽ làm giảm nhẹ nguy cơ nhồi máu cơ tim (từ 0,44% xuống 0,16%).

Tuy nhiên nó không làm giảm tỉ lệ tử vong tim mạch mà lại tăng nhẹ xuất huyết não, tăng đáng kể sự xuất huyết tiêu hóa. Cùng với các nghiên cứu khác cho thấy: Những người chưa từng bị bệnh hay tai biến tim mạch, dùng aspirin có lợi ích thất thường song lại tăng các tác dụng có hại.

Với những người này thì hệ cân bằng thromboxan-A2 prostacyclin vốn cân bằng; dùng aspirin không cần thiết mà còn sẽ gây rối loạn hệ này, làm giảm thromboxan-A2 gây chảy máu.

Với người từng bị bệnh hay tai biến tim mạch (tiên phát): Việc sử dụng Aspirin sau nhồi máu cơ tim cấp đã làm giảm 50% nguy cơ tái nhồi máu cơ tim, và làm giảm 23% tỉ lệ tử vong tim mạch.

Dùng Aspirin hỗ trợ làm tan huyết khối đã làm giảm đáng kể sự tái tắc nghẽn (từ 25% xuống 11%), giảm các biến cố thiếu máu tái phát (từ 41% xuống 25%). Sử dụng aspirin trong đau thắt ngực sẽ làm giảm nguy cơ đột quỵ không tử vong, nhồi máu cơ tim hoặc tử vong do mạch máu với cùng mức giảm (9% so với 4% trước đó).

Lưu ý, không dùng Aspirin cho trẻ dưới 16 tuổi; những người có tiền sử hay có bệnh viêm loét dạ dày tá tràng đang tiến triển; suy gan; viêm thận; đang có bệnh về hô hấp; có cơ địa dị ứng với aspirin hay các kháng viêm không steroid; mẹ mang thai cho con bú. Cần phải cân nhắc thận trọng trong các bệnh cao huyết áp; suy giảm chức năng thận, hô hấp; thoái hóa hoàng điểm dạng ẩm.

Tìm hiểu về Clopidogerel

Clopidogerel: thụ thể P2Y2 ở màng tế bào tiểu cầu là chất adenosin phosphat (ADP) một chất quan trọng trong tập kết tiểu cầu và liên kết chéo protein-fibrin. Clopidogrel phong tỏa và ức chế không hồi phục thụ thể P2Y2, nên ngăn sự tập kết tiểu cầu hình thành huyết khối – nghẽn mạch. Clopidogrel trong cấp cứu nhồi máu cơ tim đột quỵ làm giảm các biến cố tốt hơn aspirin; trong dự phòng tai biến tim mạch thứ phát, có tác dụng tương đương với aspirin cả về hiệu lực và độ an toàn.

 

Theo đó, clopidogrel dùng dự phòng nguyên phát các rối loạn huyết khối nghẽn mạch (nhồi máu cơ tim, đột quỵ các bệnh động mạch ngoại vi ở người có dấu hiệu nguy cơ; dùng cho người từng bị bệnh hay tai biến tim mạch tiên phát để dự phòng tai biến tim mạch thứ phát; dùng phòng chống thiếu máu cục bộ ở người bệnh có xơ vữa mạch vành; dùng thay thế aspirin khi người bệnh thuộc diện chống chỉ định hay không dung nạp aspirin.

Clopidogrel chuyển hóa bởi enzyme CYP-2C19 nên tương tác với các thuốc chuyển hóa lệ thuộc bởi enzyme này như các thuốc ức chế bơm proton, an thần, sốt rét, chống khối u (theo cơ chế cạnh tranh). Theo EMA, sau khi bị bệnh mạch vành cấp tính, dùng kết hợp clopidogrel với ức chế bơm proton (như esomeprazol) có nguy cơ tăng tác dụng có hại về tim mạch. Theo FDA, người có enzyme CYP -2C19 thấp có thể gặp thất bại khi dùng clopidogrel do thuốc không chuyển sang dạng hoạt động như người bình thường; số này chiếm khoảng 14% người dùng; ở những người này các tác dụng phụ về tim mạch cũng cao hơn người bình thường khoảng 3,58 lần.

Warfarin: ức chế tổng hợp tại gan các yếu tố chống đông máu. Được dùng điều trị và phòng huyết khối sau nghẽn mạch (sau khi đã dùng heparin có hiệu quả); dùng làm giảm nguy cơ tử vong nguy cơ nhồi máu cơ tim, giảm các biến cố huyết khối – nghẽn mạch sau nhồi máu cơ tim. Có hiệu lực chậm (trong vòng 24 giờ) đạt hiệu quả cao sau 3 – 4 ngày, duy trì hiệu lực 4 – 5 ngày sau khi ngừng thuốc.

Bác Sĩ Nhỏ

Loading...

Được đóng lại.